Giới thiệu về VNNIC | Trung Tâm Internet Việt Nam (VNNIC)
BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
TRUNG TÂM INTERNET VIỆT NAM - VNNIC

Giới thiệu về VNNIC

1.  Lịch sử hình thành và phát triển.

Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) là đơn vị trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, được thành lập ngày 28/04/2000, thực hiện chức năng quản lý và thúc đẩy việc sử dụng tài nguyên Internet ở Việt Nam; thiết lập, quản lý và khai thác Hệ thống DNS quốc gia; Trạm trung chuyển Internet quốc gia.

Từ khi đi vào hoạt động, VNNIC đã góp phần quan trọng từng bước đưa Internet Việt Nam hội nhập thế giới, là đầu mối cung cấp thông tin, hướng dẫn người sử dụng Internet tại Việt Nam, thúc đẩy Internet trong nước phát triển.

Năm 2000:

- VNNIC được thành lập với tên gọi ban đầu Trung tâm thông tin mạng Internet Việt Nam, là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục Bưu điện.

- VNNIC chính thức tiếp quản phần thủ tục hành chính liên quan đến công tác quản lý cấp phát tên miền ".vn" từ Vụ Chính sách Bưu điện (hệ thống kỹ thuật vẫn ủy quyền khai thác cho VNPT).

Năm 2001:

- VNNIC trở thành thành viên của Tổ chức quản lý Tên miền cấp cao mã quốc gia khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (APTLD).

- Tiếp quản và nhận chuyển giao chức năng quản lý, vận hành hệ thống máy chủ tên miền DNS quốc gia từ VNPT.

Năm 2002:

- Chính thức đổi tên thành Trung tâm Internet Việt Nam. Tên viết tắt vẫn giữ nguyên là VNNIC.

Năm 2003:

- Chính thức cung cấp số liệu thống kê liên quan đến Internet của Việt Nam.

- Thiết lập Hệ thống trung chuyển Internet quốc gia (VNIX) để trao đổi lưu lượng Internet trong nước, góp phần cải thiện đáng kể chất lượng dịch vụ Internet Việt Nam.

- Trở thành thành viên NIR (National Internet Registry – cơ quan đăng ký địa chỉ Internet cấp quốc gia) của Trung tâm thông tin mạng Châu Á Thái Bình Dương (APNIC).

- Thành lập và đưa vào hoạt động cơ sở 2, tiền thân của Chi nhánh Trung tâm tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Thay đổi chính sách, chính thức cho phép cá nhân không phân biệt địa chỉ thường trú trong và ngoài nước được đăng ký tên miền “.vn”.

Năm 2004:

- Triển khai cấp thử nghiệm tên miền tiếng Việt (giải pháp đã được nhận giải thưởng VIFOTEC năm 2003).

Năm 2005:

- Thành lập và đưa vào hoạt động cơ sở 3, tiền thân của Chi nhánh Trung tâm tại Thành phố Đà Nẵng.

Năm 2006:

- Chính thức cho phép đăng ký tự do tên miền cấp 2 “.vn” ra cộng đồng, tạo ra sự bùng nổ về đăng ký sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam.

Năm 2007:

- Áp dụng hoàn toàn mô hình Cơ quan quản lý - Nhà đăng ký (Registry - Registrar) cho hoạt động đăng ký và duy trì tên miền ".vn".

- Mở cấp tên miền tiếng Việt cho các chủ thể đăng ký sử dung tên miền truyền thống theo nguyên tắc 01 tên miền truyền thống “.vn” được cấp miễn phí 01 tên miền tiếng Việt.

Năm 2008:

- Chính thức Thành lập Chi nhánh VNNIC tại TP. Hồ Chí Minh.

Năm 2009:

- Ban Công tác thúc đẩy phát triển IPv6 quốc gia (IPv6 Task Force) được thành lập; VNNIC giữ vai trò thường trực điều phối các hoạt động của Ban.

Năm 2010:

- Kỷ niệm 10 năm thành lập và đón nhận Huân chương Lao động Hạng Ba.

- Không gian “.vn” đạt mốc 100.000 tên miền, chính thức đưa Việt Nam trở thành nước có số lượng đăng ký, sử dụng tên miền quốc gia đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á.

Năm 2011:

- Cho phép đăng ký tự do, miễn phí tên miền tiếng Việt ra cộng đồng.

Năm 2012:

- Hội thảo chuyên đề về IPv6 lần đầu được Bộ phê duyệt cho VNNIC tổ chức, làm tiền đề cho sự kiện thường niên Ngày IPv6 Việt Nam (06/5) những năm sau, là dấu ấn quan trọng trong công tác thúc đẩy phát triển IPv6 ở Việt Nam.

Năm 2013:

- Trở thành thành viên thứ 143 của ccNSO (Tổ chức Hỗ trợ tên miền cấp cao mã quốc gia trực thuộc ICANN).

- Được Quacert cấp giấy chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng ISO TCVN 9001: 2008.

- Khánh thành  nhà trạm VNNIC tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc.

- Ra mắt chuỗi Hội thảo "Bảo vệ thương hiệu Việt với tên miền ".vn" tại Bình Dương.

Năm 2014:

- Thực hiện Đề án triển khai tiêu chuẩn DNSSEC cho hệ thống máy chủ tên miền ".vn" theo phê duyệt của Bộ Thông tin và Truyền thông.

- Chuyển đổi thành công hệ thống quản lý, cấp phát tên miền “.vn” sử dụng chuẩn giao thức quốc tế chuyên ngành (EPP).

- Không gian tên miền tiếng Việt đạt mốc 1 triệu đăng ký đưa Việt Nam trở thành quốc gia có số lượng tên miền tiếng bản địa hay còn gọi là tên miền đa ngữ  (Internationalized Domain Name) lớn nhất trên thế giới.

Năm 2015:

-  Kỷ niệm 15 năm thành lập và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì.

- Nhận chứng chỉ An toàn bảo mật thông tin theo tiêu chuẩn ISO/IEC 27001:2013.

Năm 2016: 

- Ký thỏa thuận hợp tác với Trung tâm Điều phối tên miền cấp cao mã quốc gia Nga (CC for TLD.RU) trong lĩnh vực phát triển và quản lý tài nguyên Internet, an toàn, an ninh mạng Internet. 

- Triển khai 02 cụm máy chủ DNS quốc gia ".vn" trong nước hỗ trợ IPv6.

Năm 2017:

- Triển khai đăng ký và duy trì tên miền tiếng Việt thông qua hệ thống các Nhà đăng ký tên miền ".vn", áp dụng theo Thông tư số 208/2016/TT-BTC.

- Chính thức triển khai DNSSEC trên hệ thống máy chủ tên miền quốc gia ".vn".

- Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền không thông qua đấu giá chính thức được triển khai đi vào thực tế.

- Không gian ".vn" đạt mốc 400.000 tên miền, Việt Nam trở thành nước có số lượng đăng ký, sử dụng tên miền quốc gia đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á. 

2.  Chức năng, nhiệm vụ

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm được quy định tại Quyết định số 1756/QĐ-BTTTT ngày 13/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, trong đó bao gồm:

- Thực hiện việc cấp, phân bổ, ngừng, tạm ngừng, thu hồi địa chỉ (IP) và số hiệu mạng (ASN) ở cấp quốc gia; Kiểm tra, giám sát việc cấp, đăng ký, sử dụng địa chỉ IP, số hiệu mạng đối với các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động Internet;

- Tổ chức việc đăng ký sử dụng và thực hiện việc ngừng, tạm ngừng, thu hồi tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” và các tên miền khác được tổ chức Internet quốc tế phân bổ cho Việt Nam thông qua Trung tâm Internet Việt Nam;

- Thiết lập, quản lý và vận hành hệ thống máy chủ tên miền (DNS) quốc gia, Trạm trung chuyển Internet quốc gia; tham gia khai thác các công nghệ liên quan đến tài nguyên Internet và giao thức IP;

- Xây dựng và trình Bộ trưởng phê duyệt quy hoạch tài nguyên Internet, kế hoạch phát triển, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phù hợp với yêu cầu thực tiễn;

 - Lựa chọn, ký kết hợp đồng với các nhà đăng ký tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”; thúc đẩy phát triển việc đăng ký, sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”;

- Nghiên cứu, đề xuất và phối hợp với các đơn vị chức năng trực thuộc Bộ để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên Internet, về cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet trên phạm vi cả nước; 

- Đại diện cho Bộ Thông tin và Truyền thông tham gia các hoạt động của các tổ chức Internet quốc tế liên quan đến tài nguyên Internet theo phân công, ủy quyền của Bộ trưởng; 

- Tiếp nhận báo cáo, quản lý thông tin tên miền và giám sát hoạt động cung cấp dịch vụ đăng ký, duy trì và sử dụng các tên miền thuộc quyền quản lý của Việt Nam; 

- Thu thập, phân tích, đánh giá, công bố các thông tin, số liệu đăng ký, sử dụng tài nguyên Internet; các thông tin, số liệu truy vấn qua các hệ thống mạng DNS, Trạm trung chuyển Internet quốc gia VNIX và các hệ thống kỹ thuật do Trung tâm Internet Việt Nam quản lý theo quy định của pháp luật và phân công của Bộ trưởng;

- Thu, quản lý và sử dụng phí và lệ phí về đăng ký, sử dụng tài nguyên Internet theo quy định của pháp luật;

- Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về tài nguyên Internet theo phân công của Bộ trưởng;

- Thực hiện hợp tác quốc tế trong khai thác dự phòng hệ thống cho tên miền quốc gia; đăng ký và duy trì tài nguyên Internet Việt Nam với các tổ chức quốc tế; quảng bá về Internet Việt Nam; 

- Phối hợp tổ chức thực thi, giám sát kết quả thực hiện các yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông đối với các Nhà đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam, các doanh nghiệp viễn thông, Internet nhằm phòng ngừa, ngăn chặn việc phát tán các trang tin sử dụng tên miền quốc tế vi phạm quy định của Việt Nam về quản lý trang thông tin điện tử; 

- Phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ trong công tác quản lý đối với hoạt động của các hội và các tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực Internet; 

- Bảo đảm an toàn, bảo mật cho hệ thống DNS quốc gia, Trạm trung chuyển Internet quốc gia; 

- Cung cấp các dịch vụ liên quan đến tài nguyên Internet, công nghệ thông tin và tham gia các hoạt động có liên quan phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Internet Việt Nam theo quy định của pháp luật; 

- Quản lý về tổ chức bộ máy,  biên chế, thực hiện chính sách, chế độ đối với cán bộ, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Trung tâm Internet Việt Nam; 

- Quản lý tài chính, tài sản và các nguồn lực khác được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ trưởng; 

- Thực hiện các nhiệm vụ khác được Bộ trưởng giao.   

3.  Cơ cấu tổ chức

Tổ chức bộ máy, biên chế của Trung tâm bao gồm 7 Phòng, Ban và 02 Chi nhánh:

            - Phòng Tổ chức - Hành chính

            - Phòng Tài chính - Kế toán

            - Phòng Hợp tác - Quản lý tài nguyên 

            - Phòng Kỹ thuật

            - Phòng Kế hoạch - Đầu tư

            - Phòng Phát triển tên miền

            - Đài DNS và VNIX

            - Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh

            - Chi nhánh tại Thành phố Đà Nẵng

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm